Đến nội dung chính

PHẢ KÝ DÒNG HỌ

Nguồn gốc và các chi phái họ Hồ

Gia phả họ Hồ là nơi lưu giữ ký ức gia đình, tra cứu các chi phái và cùng bổ sung tư liệu về tiền nhân. Website tập hợp hồ sơ của một số nhánh họ Hồ, với phần dữ liệu chi phái tập trung vào hệ Quỳnh Đôi, Nghệ An. Nội dung lịch sử được trình bày kèm nguồn; những quan hệ chưa đủ căn cứ được ghi rõ để tiếp tục tìm hiểu và đối chiếu.

Phạm vi của bộ gia phả

Phần dữ liệu chi phái tập trung vào hệ Quỳnh Đôi, Nghệ An. Đây là các hồ sơ đang được lưu trên website, chưa đại diện cho toàn bộ họ Hồ Việt Nam.

259 hồ sơ đang lưu · 7 Trung Chi · 8 Tiểu Chi đã nhập.

Hồ sơ tổ được chọn làm mốc của bộ dữ liệu: Hồ Hưng Dật.

Biên tập theo đợt đối chiếu tư liệu ngày 26/09/2026.

01

Nguồn gốc và Hồ Hưng Dật

Theo gia phả, truyền thống

Hồ Hưng Dật được tôn kính là vị tổ trong truyền thống của nhiều chi họ Hồ. Các tư liệu về gia thế Hồ Quý Ly gắn ông với vùng Diễn Châu, Nghệ An, vào thế kỷ X. Những cách ghi niên đại khác nhau cần tiếp tục được đối chiếu.

Sử liệu ghi nhận

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi Hồ Hưng Dật từng giữ chức Thái thú ở Diễn Châu, trong đoạn nói về tổ tiên mà Hồ Quý Ly truy nhận. Ghi chép này cần được phân biệt với danh xưng Trạng nguyên trong nguồn gia phả.

Theo gia phả, truyền thống

Danh xưng Trạng nguyên được ghi nhận trong nội dung Hồ gia thế phả mà Viện Nghiên cứu Hán Nôm mô tả. Mô tả thư mục cho biết bản phả có chi tiết này; chưa đủ để khẳng định đã đối chiếu khoa thi hoặc văn bản đồng đại.

Còn tồn nghi

Địa điểm mộ Hồ Hưng Dật vẫn là đề tài nghiên cứu. Bài khảo cứu được tham khảo còn đề nghị thăm dò, vì vậy chưa thể xem địa điểm được đề xuất là mộ phần đã được khảo cổ xác nhận.

02

Quỳnh Đôi và truyền thống chi họ

Theo gia phả, truyền thống

Theo sử làng được Báo Nghệ An giới thiệu, Quỳnh Đôi có tiền thân là Thổ Đôi Trang; việc khai lập năm 1378 gắn với Hồ Hồng, Nguyễn Thạc và Hoàng Khánh. Đây là lịch sử hình thành một cộng đồng làng gồm nhiều dòng họ.

Thư mục Hồ gia hợp tộc phả kí ghi nhận một bản phả ở Hoàn Hậu, từ Hồ Kha đến Hồ Sĩ Diệu. Hai ký hiệu A.3076 và VHv.1387 là những đầu mối tra cứu có thật; website chưa đối chiếu toàn văn từng trang để xác nhận mọi quan hệ đang có trên cây.

Còn tồn nghi

Các nguồn còn những cách nối thế thứ khác nhau giữa Hồ Kha, Hồ Cao và Hồ Hồng. Sơ đồ lưu một cách biểu diễn không đồng nghĩa vấn đề lịch sử đã được giải quyết.

Theo gia phả, truyền thống

Cách phân Trung Chi, Tiểu Chi cần đọc trong phạm vi từng bản phả. Tư liệu họ Hồ Phước trình bày hệ Quỳnh Đôi qua Hồ Hân và các nhánh hậu duệ; không phải căn cứ để khẳng định toàn bộ họ Hồ Việt Nam chỉ có bảy Trung Chi.

03

Nhánh Thanh Hóa và vương triều Hồ

Tư liệu giới thiệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nhắc Hồ Liêm trong quá trình hình thành nhánh họ Hồ ở Đại Lại, Thanh Hóa, việc ông nhận họ Lê và mối liên hệ tổ tiên với Hồ Quý Ly. Dựng lại từng thế hệ trung gian cần chứng cứ riêng cho từng quan hệ.

Còn tồn nghi

Đoạn Toàn thư được tham khảo viết Quý Ly là cháu bốn đời của Huấn. Khi diễn giải phải giữ đúng đối tượng Huấn, không thay thành Liêm hoặc tự quy đổi thành một chuỗi cha–con cụ thể.

Hồ Quý Ly lập vương triều Hồ năm 1400. Các cải cách tác động đến nhà nước, kinh tế, quân sự và giáo dục. Tìm hiểu thời kỳ này cần xem xét cả chủ trương, điều kiện thực hiện và giới hạn của kết quả.

04

Tư liệu về gia hệ Tây Sơn

Theo khảo cứu

Khảo cứu của Vũ Ngọc Liễn trình bày tuyến gia hệ từ Hồ Phi Long qua Hồ Phi Tiễn và Nguyễn Phi Phúc đến Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Tuyến này được giới thiệu theo tác giả, chưa coi là chuỗi đã được website đối chiếu trực tiếp bằng đầy đủ bản phả và văn bia.

Còn tồn nghi

Những đường nối xa hơn cần tiếp tục kiểm chứng. Cùng mang họ Hồ chưa đủ xác định quan hệ huyết thống: phóng sự VOV ghi nhận cộng đồng tại A Lưới tự nguyện nhận họ Hồ để tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

05

Cách đọc nguồn và thế thứ

Các nhãn nguồn đi cùng từng nhận định. Một nhân vật được sử sách ghi nhận không tự chứng minh mọi đường nối tới nhân vật ấy. Nguồn cộng đồng có thể lưu nhiều quan điểm; các bài cùng tên miền không mặc nhiên tạo thành một kết luận thống nhất.

Số đời đang hiển thị là số được lưu trong bộ dữ liệu, chưa phải thế thứ chung đã chuẩn hóa cho mọi nhánh họ Hồ. Khi tra cứu cần biết mốc tổ tính đời và phạm vi của chi.

Còn tồn nghi

Một số đoạn phả còn khuyết nhiều đời hoặc có dị bản. Đường nối trên sơ đồ và kết quả xưng hô tự động dựa vào các liên kết đang lưu không thay thế chứng cứ về quan hệ. Cần đối chiếu tư liệu trước khi dùng chúng để kết luận huyết thống hoặc thế thứ.

Khi bổ sung tư liệu, hãy ghi tên bản phả, trang hoặc mục, người cung cấp và thời điểm ghi nhận. Bản chụp gia phả, văn bia, giấy tờ và lời kể nên được giữ cùng phần chưa rõ để người đến sau tiếp tục đối chiếu.

TRA CỨU & ĐỐI CHIẾU

Nguồn tham khảo

Các đường dẫn dưới đây kèm phạm vi đã đọc. Tìm thấy tên sách hoặc ký hiệu thư mục chưa đồng nghĩa đã xác minh từng quan hệ trong bản phả.

  1. Đại Việt sử ký toàn thư · Bản kỷ VIII, trang 293 ↗

    Bản điện tử lưu trên OLM; đã tra cứu văn bản, chưa đối chiếu ảnh bản khắc Hán văn.

  2. Viện Nghiên cứu Hán Nôm · Hồ gia thế phả, VHv.1387 ↗

    Mô tả thư mục: 22 trang, tựa năm 1888, sao lại năm 1939. Chưa đối chiếu toàn văn bản phả.

  3. Viện Nghiên cứu Hán Nôm · Hồ gia hợp tộc phả kí, A.3076 ↗

    Mô tả thư mục ghi Hồ Phi Hội biên tập, tựa năm 1852, phả tại Hoàn Hậu từ Hồ Kha đến Hồ Sĩ Diệu.

  4. Họ Hồ Việt Nam · Khảo luận về phát tích và thế thứ truyền thừa ↗

    Khảo luận ngày 06/01/2026; nguồn cộng đồng nêu các dị bản và vấn đề đang trao đổi.

  5. Báo Nghệ An · Làng Quỳnh Đôi ↗

    Giới thiệu truyền thống sử làng, mốc khai lập và các vị khai cơ.

  6. Họ Hồ Cần Thơ · Lịch sử dòng họ Hồ Phước ↗

    Tư liệu chi họ trình bày hệ Quỳnh Đôi và các nhánh hậu duệ; không đại diện mọi nhánh họ Hồ.

  7. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia · Gia thế Hồ Quý Ly ↗

    Bài giới thiệu gia thế Hồ Quý Ly và quốc hiệu Đại Ngu.

  8. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia · Những cải cách của Hồ Quý Ly ↗

    Bài tổng hợp về các cải cách cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV.

  9. Vũ Ngọc Liễn · Khảo cứu dòng họ Nguyễn Tây Sơn ↗

    Khảo cứu đăng trên Báo Bình Định năm 2005; dẫn theo lập luận của tác giả.

  10. VOV · Người A Lưới mang họ Hồ ↗

    Phóng sự về cộng đồng nhận họ Hồ để tưởng nhớ Hồ Chí Minh.

  11. Họ Hồ Việt Nam · Tồn nghi mộ Hồ Hưng Dật ↗

    Bài nghiên cứu còn đề nghị thăm dò; chưa phải kết luận khảo cổ xác nhận mộ phần.

BẢN GHI ĐƯỢC BẢO LƯU

Nội dung do quản trị viên lưu

Các đoạn dưới đây là nội dung đang được lưu trong cấu hình quản trị, được quản lý riêng với phần đối chiếu ở trên. Chúng được giữ để tra cứu, có thể chứa nhận định hoặc cách đánh số chưa thống nhất; cần đọc cùng nguồn và ghi chú nghiên cứu, không xem là kết luận đã kiểm chứng.

Tổ quán ghi trong cấu hình: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Lời giới thiệu đã lưu
Cây phả đồ được số hóa từ “Báo cáo nghiên cứu gia phả họ Hồ Việt Nam” (tổng hợp 17/09/2026). Mỗi quan hệ được ghi rõ mức chứng cứ: A (chính sử/chứng cứ mạnh), B (phả cổ/Hán Nôm), C (phục nguyên, tồn nghi). Các khoảng trống nhiều đời và dị bản được giữ nguyên, không suy đoán.
Nguồn gốc đã lưu
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Hồ Quý Ly “tự suy tổ tiên” là Hồ Hưng Dật, người Chiết Giang, sang vùng Diễn Châu thời Hậu Hán thuộc Ngũ Đại, cư trú tại Bào Đột và trở thành trại chủ. Từ Hồ Hưng Dật, sử liệu ghi nhiều thế hệ hậu duệ tại Diễn Châu mà không còn danh sách tên từng đời; các mốc quan trọng về sau là Hồ Liêm (Đại Lại, Thanh Hóa — nhánh dẫn tới Hồ Quý Ly) và Hồ Kha (hệ Quỳnh Lưu/Quỳnh Đôi, khoảng đời 12–13 theo phả cổ, còn dị bản).
Phả ký đã lưu
Hệ Quỳnh Đôi: Theo Hồ gia thế phả (VHv.1387) và Hồ gia hợp tộc phả kí (A.3076), phần phả chi tiết của hệ Quỳnh Đôi bắt đầu từ Hồ Kha, qua Hồ Hồng tới Hồ Hân — mốc “đời 1” nội bộ của họ Hồ Đại Tộc Quỳnh Đôi (không phải đời 1 tính từ Hồ Hưng Dật). Ba hướng lớn từ Hồ Hân: Hồ Ước Lễ (Trung Chi 1–3), Hồ An (Trung Chi 4–6), Hồ Hưởng Phúc → Hồ Thiện Tích (Trung Chi 7). Trung Chi 2 (Hồ Khắc Kiệm) có cấu trúc tiểu chi rõ nhất: Hồ Phi Chiêu (Ông Pháp) là tổ chung Tiểu Chi 1–4; Hồ Khắc Triết (Ông Hóa) là tổ chung Tiểu Chi 5–8; Hồ Văn Hoán gắn với Tiểu Chi 6; Hồ Trồng (Hồ Lung / Hồ Phúc Thiện) gắn với Tiểu Chi 7. Nhánh Tây Sơn: tuyến tổ tiên gần của Nguyễn Huệ: Hồ Phi Long → Hồ Phi Tiễn → Hồ/Nguyễn Phi Phúc → Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Các thế hệ gần có cơ sở tốt, nhưng đường nối liên tục về Hồ Hưng Dật chưa đủ chứng cứ — thể hiện bằng node khoảng trống.
Truyền thống đã lưu
Khoa bảng Quỳnh Đôi: phả và thư tịch Hán Nôm liệt kê nhiều nhân vật khoa bảng như Hồ Sĩ Dương, Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Liêm, Hồ Bá Ôn. Riêng Hồ Sĩ Dương có thể đối chiếu bằng nghiên cứu lịch sử, văn bia và nguồn Hán Nôm. Vị trí chi phả cụ thể của các danh nhân cần đối chiếu trực tiếp bản phả gốc.
Quản trị → Cấu hình dòng họ

Gìn giữ cội nguồn, nối tiếp mai sau.